Hướng dẫn toàn diện về quy tắc đặt tên container thông tin trong dự án BIM, từ tiêu chuẩn quốc tế ISO 19650 đến khung pháp lý Việt Nam theo bộ TCVN 14177:2024 do Bộ Xây dựng ban hành.

1. Tại sao cần quy tắc đặt tên file trong dự án BIM?

Trong môi trường dự án BIM, hàng nghìn file được tạo ra bởi nhiều bên tham gia khác nhau – kiến trúc sư, kỹ sư kết cấu, kỹ sư MEP, nhà thầu. Nếu mỗi bên đặt tên theo quy ước riêng, việc tìm kiếm, trao đổi và kiểm soát phiên bản tài liệu sẽ trở nên hỗn loạn.

ISO 19650 giải quyết vấn đề này bằng cách định nghĩa khái niệm container thông tin (information container) – bất kỳ tập hợp dữ liệu có tên nào trong hệ thống lưu trữ, từ file Revit đến bản vẽ PDF hay bảng tính Excel. Mỗi container cần một định danh duy nhất và có ý nghĩa, độc lập với vị trí thư mục.

Nguyên tắc cốt lõi: Tên file phải mang đủ thông tin để nhận dạng nội dung mà không cần mở file hoặc biết cấu trúc thư mục. Đây là yêu cầu bắt buộc từ BIM Level 2 trở lên.

2. Cấu trúc đặt tên theo ISO 19650

ISO 19650 quy định cấu trúc tên gồm các trường (field) phân tách bằng dấu gạch ngang (–). Gạch ngang chỉ được dùng để phân tách trường; trong nội bộ một trường, dùng dấu gạch dưới (_) nếu cần.

Chuỗi định danh chuẩn:  PROJ – ORIG – FUNC – LOC – TYPE – ROLE – NUM – REV

Trường Tên Mô tả / Ghi chú
PROJ Mã dự án 2–6 ký tự, do bên đặt hàng xác định, thống nhất cho tất cả các bên
ORIG Mã đơn vị tạo file 3–6 ký tự, định danh tổ chức tạo ra container
FUNC Chức năng / vùng Hệ thống, zone hoặc chức năng thiết kế; dùng ZZ nếu toàn bộ
LOC Vị trí / tầng Phân vùng không gian (tầng, khu vực); dùng XX nếu không áp dụng
TYPE Loại thông tin DR = Bản vẽ, M3 = Model 3D, PM = Tài liệu quản lý dự án
ROLE Bộ môn / vai trò A = Kiến trúc, S = Kết cấu, M = MEP, C = Dân sự
NUM Số thứ tự 4 chữ số nguyên, dùng số 0 đứng đầu (0001, 0034…)
REV Phiên bản P1/P2 = sơ bộ; S0/S1/S2 = chia sẻ; A1/A2 = phê duyệt; D = bàn giao

Ví dụ thực tế

Ví dụ 1 – Bản vẽ mặt bằng kiến trúc tầng 3
VN2025-VNCC-ZZ-03-DR-A-0012-S2.rvt
VN2025 = Dự án   VNCC = Tư vấn thiết kế   ZZ = Toàn công trình   03 = Tầng 3   DR = Bản vẽ   A = Kiến trúc   0012 = Số thứ tự   S2 = Chia sẻ để phê duyệt

3. Mã trạng thái và phiên bản (Suitability & Revision)

Trường trạng thái (suitability) và phiên bản (revision) phản ánh vòng đời của tài liệu trong Môi trường Dữ liệu Chung (CDE). ISO 19650 phân biệt hai nhóm: tài liệu sơ bộ (P-series) và tài liệu đã phê duyệt (A-series).

Ý nghĩa Vùng CDE Tiền tố phiên bản
WIP Đang làm việc (Work In Progress) Work in Progress P1, P2, P3…
S0 Chia sẻ nội bộ để xem xét Shared P-series
S1 Chia sẻ để phối hợp giữa các bên Shared P-series
S2 Chia sẻ để phê duyệt thông tin Shared P-series
A1 Được chấp thuận để phát hành thi công Published A1, A2…
A4 Được chấp thuận để tham chiếu thông tin Published A-series
D1 Phát hành cuối dự án / bàn giao Archive D-series

Lưu ý: Trường trạng thái và phiên bản là bắt buộc khi CDE không thể theo dõi metadata tự động. Khi CDE có khả năng quản lý metadata đầy đủ, hai trường này có thể được lưu trong thuộc tính file thay vì trong tên file.

4. TCVN 14177:2024 – Khung pháp lý Việt Nam

Bộ Xây dựng Việt Nam đã ban hành TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024 vào năm 2024, do Tổng Công ty Tư vấn Xây dựng Việt Nam (VNCC) biên soạn. Bộ tiêu chuẩn được xây dựng trực tiếp trên cơ sở tham chiếu ISO 19650-1:2018 và ISO 19650-2:2018.

Đây là bước hiện thực hóa lộ trình BIM quốc gia, tiếp nối Quyết định 2500/QĐ-BXD (2016) và các Quyết định 347/348 (2021) của Chính phủ về áp dụng BIM trong xây dựng.

Tương quan giữa ISO 19650 và TCVN 14177:2024

ISO 19650 (Quốc tế) TCVN 14177:2024 (Việt Nam)
Khung nguyên tắc tổng quát Điều chỉnh thuật ngữ cho bối cảnh VN
Cho phép National Annex điều chỉnh Xác định vai trò bên đặt hàng / thực hiện
Quy định cấu trúc trường tên file Hướng dẫn 8 bước triển khai BIM
Xác định vòng đời CDE Bổ sung yêu cầu bàn giao tài sản
Không bắt buộc hệ thống phân loại cụ thể Tích hợp vào lộ trình BIM quốc gia

TCVN 14177-1:2024 tương đương ISO 19650-1 (khái niệm và nguyên tắc). TCVN 14177-2:2024 tương đương ISO 19650-2 (giai đoạn chuyển giao tài sản). Về quy tắc đặt tên file, các dự án BIM tại Việt Nam áp dụng cấu trúc ISO 19650 và bổ sung theo National Annex nếu có.

5. Áp dụng thực tế tại dự án Việt Nam

Khi triển khai BIM theo TCVN 14177, các dự án tại Việt Nam cần thiết lập quy tắc đặt tên trong Kế hoạch Thực hiện BIM (BEP). Dưới đây là các ví dụ cho dự án tòa nhà văn phòng tại Hà Nội:

Ví dụ 1 – Model kiến trúc, WIP, phiên bản sơ bộ
HN25-VNCC-BLD-ZZ-M3-A-0001-P1.rvt
HN25 = Dự án HN 2025   VNCC = Tư vấn thiết kế   BLD = Tòa nhà chính   ZZ = Tất cả tầng   M3 = Model 3D   A = Kiến trúc   0001 = Số thứ tự   P1 = Sơ bộ lần 1

 

Ví dụ 2 – Bản vẽ kết cấu tầng hầm, đã phê duyệt
HN25-KTXD-BLD-B1-DR-S-0034-A2.dwg
HN25 = Dự án   KTXD = Đơn vị kết cấu   BLD = Tòa nhà   B1 = Tầng hầm 1   DR = Bản vẽ   S = Kết cấu   0034 = Số thứ tự   A2 = Phê duyệt lần 2

 

Ví dụ 3 – Tài liệu EIR của chủ đầu tư
HN25-CDA-XX-XX-PM-X-0001-S2.pdf
HN25 = Dự án   CDA = Chủ đầu tư   XX = Không áp dụng (chức năng)   XX = Không áp dụng (tầng)   PM = Tài liệu quản lý dự án   X = Không phân bộ môn   0001 = Số thứ tự   S2 = Chia sẻ để phê duyệt

6. Những lưu ý khi triển khai

Hệ thống pháp lý hiện tại vẫn tập trung vào hồ sơ giấy tờ và bản vẽ; chưa có quy định đầy đủ về tính pháp lý của dữ liệu BIM và chữ ký số. Đây là khoảng trống cần được bổ sung trong các văn bản pháp luật tiếp theo.

Khuyến nghị thực tiễn khi thiết lập quy tắc đặt tên cho dự án BIM:

  • Thiết lập bảng mã (code table) cho tất cả các trường ngay từ đầu dự án trong BEP và cam kết tất cả các bên tuân thủ nhất quán.
  • Không thay đổi mã dự án (PROJ) và mã đơn vị (ORIG) trong suốt vòng đời dự án; hai trường này là nền tảng để theo dõi nguồn gốc tài liệu.
  • Khi CDE có khả năng quản lý metadata, ưu tiên lưu trạng thái và phiên bản trong metadata thay vì tên file để tên file gọn hơn.
  • Sử dụng ZZ (nhiều vùng/tầng) và XX (không áp dụng) đúng mục đích để tránh tên file mơ hồ hoặc không nhất quán.
  • Tổ chức buổi kickoff BIM để thống nhất bảng mã trước khi bất kỳ bên nào bắt đầu tạo file cho dự án.

Tài liệu tham khảo

[1] ISO 19650-1:2018 – Organization and digitization of information about buildings and civil engineering works, including BIM – Part 1: Concepts and principles
[2] ISO 19650-2:2018 – Part 2: Delivery phase of the assets
[3] TCVN 14177-1:2024 – Tổ chức và số hóa thông tin về công trình xây dựng, bao gồm BIM – Quản lý thông tin sử dụng mô hình hóa thông tin công trình – Phần 1: Khái niệm và nguyên tắc
[4] TCVN 14177-2:2024 – Phần 2: Giai đoạn chuyển giao tài sản
[5] Tài liệu Hướng dẫn Áp dụng TCVN 14177:2024 – VNCC biên soạn, Bộ Xây dựng phát hành tháng 01/2025
[6] Quyết định 2500/QĐ-BXD ngày 22/12/2016 – Đề án áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng và quản lý vận hành công trình